Dừng chân chốn …Vật

By nguyenngoc

Dừng chân chốn …Vật

Không cấp tốc cũng không nóng bỏng như các “lò” luyện thi nhưng “lò” Vật của làng Yên Nội xã Đồng Quang Quốc Oai Hà Nội từ lâu cũng đã trở nên nổi tiếng. Nơi đây vừa là cái nôi nuôi dưỡng những vận động viên (VĐV) xuất sắc môn Vật cho thể thao Việt Nam mà còn lưu giữ một lễ hội văn hóa đặc sắc của vùng thôn quê Bắc Bộ…

“Có sức khỏe là có tất cả”

Theo những người già trong làng kể lại. Làng Yên Nội vốn nằm ven sông Đáy. Dân cư ở đây rất nghèo khổ thường xuyên bị thiên tai dịch bệnh. Trước tình cảnh muốn thoát sự đói kém về kinh tế nhưng chưa được sự chấp thuận của… ông trời. Dân làng đã tìm kiếm đến giải pháp nâng cao sức khỏe  để chống chọi lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Mọi người nhận ra “có sức khỏe là có tất cả” một khi cơ thể khỏe mạnh đầu óc sáng sủa thì không việc gì là không thể làm được“có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Thế nên Vật ra đời từ đó. Cũng chẳng ai biết nó có chính xác khi nào và do ai sáng lập?. Nhưng cũng đã ngót hơn 400 năm nay lễ hội Vật truyền thống của làng đều được diễn ra vào ngày 12 tháng 2 âm (nghe đâu là ngày sinh thần núi Tản Viên). Đây là dịp để dân làng làm lễ báo công với các vị thần tổ tiên nghề Vật thể hiện tinh thần tập thể tính đoàn kết giữa mọi người…alt

 Tinh thần thượng…Vật 

Ngày nay Yên Nội đã có nhiều thay đổi. Đời sống của nhân dân đã khấm khá. Không còn những nhà tranh vách đất càng không có tình trạng các em nhỏ bỏ học hay không có điều kiện đến trường. Cách huyện lị Quốc Oai khoảng 1.5km Yên Nội vừa mang dáng dấp của một làng quê Bắc Bộ yên bình vừa pha lẫn hình ảnh những nhà cao tầng hàng quán của lối sống kinh tế thị trường. Vỏ bọc đời sống ấy đổi thay có chỗ lồi chỗ lõm có chỗ khớp những cũng có cái chưa thích hợp. Nhưng thật may tinh thần thượng…Vật ở nơi đây vẫn còn vẹn nguyên. Không những vậy mà càng ngày càng được các cấp chính quyền quan tâm bà con chung tay gìn giữ. Đến Yên Nội từ trẻ nhỏ mẫu giáo cho đến cụ già chống gậy ai nấy đều thông thạo về Vật. Người yêu Vật đam mê và xem như đó là cái nghề thì theo đuổi đến cùng trở thành những VĐV quốc gia quốc tế được nhiều người biết đến. Còn những ai chỉ xem Vật như món ăn tinh thần giải trí sau những ngày mùa mệt nhọc cũng nắm hết được những đường nét cơ bản của Vật. Cô Nguyễn Thị Xuân trưởng thôn cho biết: “Ở làng trẻ con từ khi biết đi biết nói cũng biết luôn về Vật. Sự am tường đó đến với mọi người một cách tự nhiên như việc con người muốn sống được phải ăn cơm vậy”. Có lẽ thế mà ngay như cô khi còn tuổi đôi mươi cũng từng là một đô Vật khá nổi. Cũng không biết bao nhiêu chàng mê cô vì những… ngón Vật đẹp mắt đó.alt

Để phát huy tinh thần ấy từ khi nắm giữ cương vị thôn trưởng cô đã đưa ra nhiều hoạt động thiết thưc. Trước kia Hội làng diễn ra tẻ nhạt. Đơn giản chỉ đến đọc về lịch sử rồi các đội ra đấu. Tuy rằng có sự kịch tính của thắng thua nhưng Hội vẫn chưa thực sự làm nổi bật nét văn hóa truyền thống đó. Vậy nên khi được bà con tín nhiệm nắm quyền trong tay dù là phận gái khó tránh khỏi những dị nghị điều tiếng cô đã bằng hành động để thuyết phục mọi người. Ngoài chăm lo đời sống kinh tế vào ngày Hội làng cô Xuân cùng cán bộ thôn đi mời thêm những xới Vật khác ở mọi miền về tham dự. Tự mình đi quyên góp ủng hộ được bao nhiêu đều đưa vào quỹ để làm quà tặng cho những ai làm rạng danh quê hương. Giờ đây mỗi lần Hội làng là người dân từ khắp nơi đổ về nườm nượp. Ai cũng một lần muốn xem những VĐV HLV quốc gia như ông Phí Hữu Tình cô Nguyễn Lụa thi đấu…Họ là những người đã đạt nhiều giải thưởng ở đấu trường trong nước và quốc tế mang danh về cho làng cũng như đất nước. Ở đây không hiếm gia đình 3 - 4 đời đều làm đô Vật. Theo sự giới thiệu của cô Xuân chúng tôi tìm đến nhà cụ Nguyễn Đình Chiến. Năm nay đã ngoài 90 chân tay đã hơi yếu nhưng khi hỏi về chuyện Vật mắt cụ cứ sáng lên giọng nói rung rung đầy xúc động. Các con cụ đều trưởng thành nên từ môn Vât người làm HLV quốc gia người HLV cho đội tuyển thể thao các tỉnh. Cụ vui mừng khoe: “Đứa cháu gái cũng mới đạt HCV tỉnh môn Vật đấy. Giờ không đấu được chỉ ngồi xem thôi nhưng thấy con cháu vẫn hào hứng vẫn giữ được hồn Vật là tôi mãn nguyện lắm rồi”.  

Từ xưa các đô vật của làng đã giữ được phong thái ung dung không gây hằn thù dù thắng hay thua. Họ cũng tránh dùng những ngón đòn gây nguy hiểm cho đối thủ. Kỷ luật đó đạo đức đó vẫn được con cháu thời nay lưu giữ. Các đô Vật ra đời thi đấu dù sống trong môi trường phố thị xa hoa nhưng vẫn giữ được phẩm giá đứng hạnh của người con làng Vật Yên Nội. Các xới Vật của làng đời này qua đời khác đều đã đang và sẽ góp phần đưa môn thể thao Vật nước nhà lên xứng tầm với các quốc gia trên thế giời.

 

 

 

 

More...

Về Làng Diềm…chơi quan họ

By nguyenngoc

Về Làng Diềm…chơi quan họ

“Làng quan họ quê tôi tháng giêng mùa hát hội. Những đêm trăng hát gọi con sông Cầu làng bao xanh. Làng những làng quan họ xanh xanh…” Tiếng hát của ca sĩ Anh Thơ ngân nga trong chiếc radio của xe buýt càng khiến chúng tôi tò mò và hứng khởi khi trên đường tìm về làng Diềm xã Hòa Long TP. Bắc Ninh nơi mệnh danh là thủ phủ của quan họ xứ Kinh Bắc.alt

Nôi mộc…

Đã từng lang thang khá nhiều làng cổ ở vùng đồng Bắc Bộ nhưng chúng tôi thấy ít nơi nào trong một làng lại vừa có đình có đền lại có chùa như nơi đây. Ngay từ đầu làng hình ảnh Đền Cùng Giếng Ngọc đã hiện ra cổ kính thanh bình đến lạ. Dưới hồ hoa súng nở đỏ mặt nước trên bờ những cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi nghiêng mình tỏa bóng che mát cả một góc sân.. Làng Diềm hay còn gọi là làng Viêm Xá có thế “lưng tựa núi mặt hướng sông”. Phía sau làng là ngọn núi Thiên Lĩnh thoai thoải bao quanh làng là dòng sông Cầu hiền hòa. Thế đứng đó của làng theo phong thủy có thể xem là “thiên thời địa lợi nhân hòa”.  Có lẽ vậy mà dường như mỗi đường làng ngõ xóm ở đây đều gắn với những giai thoại truyền thuyết huyền bí. Với Đền Cùng Giếng Ngọc người dân tự hào về truyền thống lễ hội tát nước cầu mưa thuận gió hòa vào Tết Thanh Minh hàng năm cùng câu chuyện cảm động phò vua giúp dân của hai nàng công chúa Ngọc Dong và Thủy Tiên (con gái vua Lý Thánh Tông). Cổ kính mộc mạc và hết đỗi yên bình làng Diềm còn nối tiếng là cội nguồn là cái nôi của quan họ Bắc Ninh. Lại có tương truyền rằng xưa kia công chúa con của vua Hùng thứ 6 khi xấp xỉ tới tuần cập kê có rất nhiều trai tráng đến xin cầu hôn. Vua cha thấy vậy liền tổ chức hội thi cướp cầu để chọn phò mã. Nhưng khi cuộc tuyển chọn kết thúc bà không ưng thuận lấy người thắng cuộc nên xin với vua cha cho thêm thời gian đi chu du trong nước rồi mới về quy y. Bà mang theo 49 thị vệ nam và 49 thị nữ . Khi vừa rời khỏi kinh thành thì có cơn giông mưa to gió lớn ập đến cuốn cả đoàn người lên trời rồi lại giáng xuống ấp Viêm Trang (nay là làng Diềm). Viêm Trang khi đó là vùng đất hoang dã cây đước lau sậy um tùm rậm rạp. Thay vì về Kinh bà đã ở lại đây khai phá đất hoang lập làng xóm rồi dựng vợ gả chồng cho mọi người (nên bây giờ mới có 49 làng quan họ ở Bắc Ninh). Bà lại dạy mọi người cách làm ruộng trồng dâu nuôi tằm. Đặc biệt bà sáng tác ra các bài ca với những ngôn từ mộc mạc xuất phát từ đời sống hàng ngày và tình yêu lứa đôi rồi dạy nam thanh nữ tú hát. Từ đó những lời ca tiếng hát ấy cứ vang lên ngày ngày xua tan đi bao nhọc nhằn vất vả làm cuộc sống nơi đây trở nên vui tươi và tràn đầy sinh khí. Những câu ca đó còn lưu truyền đến mãi ngày nay và người ta quen gọi nó là dân ca quan họ. Sau khi bà mất dân làng lập đền thờ tôn vinh bà là Đức Vương Mẫu Vua bà- Thủy tổ Quan họ và là thành hoàng của làng.alt

Ươm mầm ngọc

Nhiều người bảo làng Diềm là cái nôi mộc nhưng lại ươm mầm những hạt ngọc. “Mộc” từ những nếp nhà từ những nét sinh hoạt vẫn còn đậm nét của thôn quê Bắc Bộ và hơn cả là “mộc” trong những làn điệu quan họ cổ. Như giáo sư Tô Ngọc Thanh đã từng nói nếu chỉ nghe quan họ trên loa đài thôi không thì chưa phải là nghe quan họ thực. Phải về những vùng quê sống ở nơi trăng thanh gió mát xa cái ồn ào của phố thị tách bạch với những ánh đèn sân khấu và tiếng nhạc réo rắt mà đắm mình trong lời ca hát chay hát mộc của các liền anh liền chị mới ngấm hết được cái “chất” cái “thần” của quan họ. Mới hiểu được tại sao làn điệu dân ca sâu lắng đó lại được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Theo sự giới thiệu của dân làng chúng tôi tìm đến nhà chị Thềm bà Bàn. Lúc đầu cứ tưởng là hai mẹ con nhưng hóa ra đó lại là mẹ chồng nàng dâu. Điều thú vị cả hai vừa là những nghệ nhân tên tuổi vừa là những cô giáo dạy hát dạy chơi quan họ kỳ cựu của làng.  Chị Thềm chia sẻ: “Từ nhỏ tôi đã được theo mẹ đẻ đi hát quan họ. Khi về đây lại được mẹ chồng dạy thêm. Mỗi người một phong cách hát khác nhau nhưng đều là những làn điệu quan họ cổ nhất nên nhiều người nghe chúng tôi hát xong cứ bảo là những viên ngọc chưa được rèn giũa”.  Đúng vậy chính những cái sần sùi cái thô mộc ấy đã tạo nên hương sắc riêng biệt trong giọng điệu phối khí của quan họ làng Diềm mà ở nhiều làng quan họ khác không có. Chị Thềm còn cho biết thêm nếu chỉ hát không thì không phải quá khó nhưng để để chơi được quan họ đúng bài bản không dễ chút nào. Ở làng từ xưa đã có nhiều “bọn quan họ” (đội quan họ bây giờ) hay giao lưu với nhau. Mỗi khi có liền anh liền chị đến nhà nhau là cái thú chơi quan họ lại bắt đầu. Mọi người đi đứng ăn nói sẽ sàng giao đãi tế nhị nhẹ nhàng nhưng không kém phần trang trọng quý phái. Nói là làm chị vừa hát vừa đưa chúng tôi vào không khí của một canh quan họ. Thẩm thỉ rầm rì chị mời chúng tôi miếng trầu têm cánh phượng rồi cất lời ngân điệu Giã bạn. Không giống vị ngòn ngọt mằn mặn của dân ca Nghệ Tĩnh tiếng hát của chị trong trẻo thanh thanh man mác giống như cơn gió ngát hương trên cánh đồng lúa đang thì con gái.

Đến làng Diềm vào những ngày hè từ đầu làng du khách đã có thể nghe thấy tiếng hát quan họ vọng ra từ các lớp học trường làng của các em thiếu nhi của các bạn sinh viên nghệ thuật tìm về cội nguồn hay tiếng “ê a” của một khách nước ngoài nào đó muốn tìm hiều về quan họ. Nhưng dù là ai dù trong hoàn cảnh nào thì cái mộc trong những lời ca tiếng hát trong nếp chơi ấy vẫn không phai dấu ở làng quan họ này.


More...

Người thổi hồn vào đá cao nguyên

By nguyenngoc

Người thổi hồn vào đá cao nguyên

 

Quê Quảng Nam nhưng lại lập nghiệp ở xứ sở sương mù Đà Lạt anh Hồ Minh Tiến một trong những người đầu tiên mang thư pháp và tranh ảnh vào đá ở Việt Nam chia sẻ: “Với anh đá là bạn. Mỗi viên đá đều có tiếng nói và mang ý nghĩa riêng”.

Từ thạch thư…

Tôi có dịp gặp anh trong một lần dạo chơi ở khu Đồi Mộng Mơ ở TP. Đà Lạt. Trong gian nhà lá cuối chân đồi anh đang say sưa viết chữ và vẽ tranh. Điều đặc biệt những nét chữ Việt thư pháp đó không phải viết trên chất liệu giấy bình thường mà được viết trên đá. Chú kể: “Năm 2oo4 khi ra biển Vũng Tàu anh thấy người ta khắc tên những câu danh ngôn trên vỏ sò vỏ ốc trông ngộ nghĩnh xinh xinh. Anh tự hỏi ở biển có ốc có sò để viết vậy trên núi có gì? Rồi anh chợt nghĩ đến những viên đá Silic màu đen tuyền ở con suối Đại Bình thị xã Bảo Lộc Lâm Đồng nơi hiện tại anh đang sinh sống”. Kể từ đó anh bắt đầu “yêu” đá.alt

Thời gian đầu rất khó khăn. Gia đình mới nhập cư chưa ổn định tiền học cho con còn chưa đủ nói chi đến việc cấp cho anh đi học. Nhưng rồi cả nhà quyết tâm thử một phen. Chưa biết chữ thư pháp nên anh Tiến đã “khăn gói quả mướp” lên tận Sài Gòn học mấy tháng trời. Cũng may vốn có năng khiếu vẽ từ bé nên anh không những nản chí mà càng say mê hơn khi học viết chữ. Còn hàng ngày vợ và các con anh thay nhau xuống suối nhặt đá. Đến nhà chú đâu đâu cũng thấy đá từ ngoài vườn cho đến gầm giường. Và thành công cũng đến năm 2005 trong dịp Fetival Đà Lạt anh thử mang ra trưng bày. Không ngờ lại được rất đông khách đến tham quan và ủng hộ. Niềm vui như được nhân lên khi giám đốc khu du lịch đồi Mộng Mơ mời gian hàng của anh về “đóng đô” ở đó.  

Càng làm càng say càng yêu đá yêu nghề. Anh tâm sự: “Thu nhập không được bao nhiêu nhưng mỗi khi cầm bút vẽ hay viết lên đá anh cảm thấy tĩnh tâm thanh thản. Nhiều lúc anh quên cả thời gian. Khách đến hỏi mấy lần mới ngớ người ngẩng đầu lên”. Theo anh mỗi câu thơ ca dao hay danh ngôn đều phải phù hợp với hình thù của từng viên hay phiến đá. Như viên đá hình trái tim thì chú sẽ viết những câu danh ngôn về tình yêu đôi lứa còn những viên hình na ná mẹ ôm con thì lại viết những câu về tình cảm gia đình… Khác với những nghệ nhân làm thạch thư khác bên cạnh viết chữ anh còn có họa. Những bức tranh của anh đủ thể loại từ thủy mặc cho đến cảng đồng quê phố thị… Vì thế để một bức tranh thư họa bằng đá ra đời phải qua nhiều công đoạn. Đòi hỏi sự tỉ mẫn cao độ ngay từ khâu đầu tiên là nhặt đá cho đến khâu cuối cùng là viết chữ vẽ tranh.

Hơn thế nữa viết thư pháp vẽ hình ảnh quê hương trên đá cũng là một cách để anh quảng bá cho khách nước ngoài về văn hóa đất nước con người Việt Nam. Nhờ đó mà giờ đây những bức thạch thư họa của anh không chỉ trưng bày trong nước mà còn được khách nước ngoài đặt hàng làm quà lưu niệm. Tùy vào kích thước và hình thù của mỗi viên đá mà chúng có trị giá khác nhau có viên khoảng 20 nghìn nhưng có viên lên tới chục triệu.

…đến thạch ảnh

Là một người không ngừng sáng tạo anh đã không dừng lại ở việc viết và vẽ lên đá mà còn tìm cách lưu giữ hình ảnh trên đó.

Mặc dù không qua một trường lớp Mỹ thuật chuyên nghiệp nào nhưng nhờ sự nỗ lực vừa học hỏi thêm từ những người bạn vừa ngày đêm mầy mò ăn ngủ cùng những phiến đá cuối cùng anh cũng thành công.  Những bức thạch ảnh đầu tiên đã được ra lò vào tháng 6 vừa qua. Không phải là người đầu tiên ở Việt Nam nhưng anh Tiến vẫn tự hào mình là một trong những người tiên phong thổi hồn vào đá trên vùng đất cao nguyên này. Anh chia sẻ: “Thạch thư giống thạch ảnh ở chỗ là mỗi hình ảnh phải phù hợp với hình thù của đá. Tuy nhiên thạch ảnh không chỉ nhiều công đoạn yêu cầu kỹ năng tay nghề công nghệ cao hơn mà còn chiếm thời gian lâu hơn. Nếu thạch thư họa hai tiếng làm được 5 cái thì thạch ảnh chỉ được một cái.” Anh cho biết thêm bình thường thạch thư viết vẽ xong chỉ phải sấy khô nhưng với thạch ảnh sau khi in hình xong còn phải nung lên như khi ta nấu gạch vậy. Khó nhất là công đoạn cho hình lên đá phải làm sao cho nước ảnh có màu sắc như thật không nhòe không tối hay sáng quá…quả không dễ chút nào. Có lẽ chỉ có những con người say mê đá yêu nghề ưa tìm tòi như chú mới làm được điều đó. alt

 Nhìn anh mân mê nâng niu từng viên đá và đọc những câu ngạn ngữ trên đó tớ thực sự mới thấy đá không phải là vật vô tri vô giác. Mọi vật sinh ra đều có giá trị riêng của nó…

 

More...

Đậm tình mía nướng

By nguyenngoc

Đậm tình mía nướng

Bon chen giữa bao hàng quán quà vặt khác của Hà Thành vào đông quán của gia đình chị Nguyễn Thị Duy (quê ở Hà Tây cũ) ở trước rạp Hát Đại Đồng Hàng Cót nổi tiếng món đặc sản đồng quê…mía nướng.alt

Lang thang một mình trên Phố Cổ trong cái giá lạnh của trời đông tôi chợt thèm ăn một cái gì đó nong nóng âm ấm. Bánh khoai? Không phải béo ngậy quá! Ngô luộc ư! Cũng không hơi nhạt quá!...Vẫn đang phân vân chưa biết thưởng thức món gì tôi chợt ngửi thấy một mùi thơm ngòn ngọt khen khét ở đâu đó lai vãng trong không trung. Đi theo “tiếng gọi của dạ dày” và mùi thơm đó tôi đến quán mía nướng của chị Duy. Tôi nhớ ra rồi. Đã có lần tôi đọc trên mạng có giới thiệu về quán mía nướng này. Nghe cái tên là lạ nhưng tôi chưa có dịp thưởng thức. Hôm nay phải thử mới được.

Quán nhỏ chỉ là một góc vỉa hè trước Rạp hát nhưng xem chừng rất đông khách. Mọi người ngồi sang cả phía vỉa hè đối diện. Tôi chọn cho mình chỗ ngồi gần bếp lò đang nướng mía. Những khúc mía đỏ tròn to được lau sạch chia thành những đoạn dài 3-4 đốt để nguyên vỏ rồi cho cháy sém dần trên ánh lửa bập bùng. Lúc nghe tên mía nướng thực sự tôi chưa tưởng tưởng ra nó sẽ như thế nào. Tôi cứ nghĩ rằng không thể nướng được vì làm như vậy nước mía sẽ chảy ra hết giống như nấu mật ấy. Nhưng khi ngồi xem và thưởng thức tôi nhận ra điều ấy là ngược lại. Nước mía không những không chảy đi mà còn cô lại ngọt đậm hơn vị thơm hơn. Chị Duy cho biết cũng có nhiều người thắc mắc điều này. Nhất là khi thấy những giọt nước mà chị gọi là “mồ hôi” của mía chảy xuống bếp lò các bạn ấy đã hứng để uống thử xem vị như thế nào. Tất nhiên là nhạt rồi. Vì giống như mình xông hơi khi cảm cúm ấy. Người ta trùm chăn cho mồ hôi chất độc ra ngoài thì mía cũng có lớp áo bên ngoài bao bọc. Khi nằm trên lò than tấm áo ấy cháy nhưng chỉ đủ làm thứ nước cặn lọc từ những giọt mưa giọt sương trời chảy ra ngoài thôi. Còn thứ nước tinh có thêm hơi nóng càng co mình vào trong ruột mía. Chính vì lẽ đó mà khi ăn mía nướng không tơi xốp mọng ứ nước như mía thường. Ngồi bên bếp than hồng ấm áp ngày rét vừa xuýt xoa nhâm nhi từng thanh mía nướng nhỏ bốc hơi. Cảm giác như đang thưởng thức một món sơn hào hải vị không tên của đồng quê vậy. Thưởng thức mía nướng ở giữa lòng Hà Thành tôi chợt nhớ đến mật mía ở quê tôi. Ngọt đậm đà sâu lắng như tâm hồn con người xứ Nghệ. Còn hồn người Tràng An thanh lịch nhẹ nhàng tao nhã nên mía nướng nơi đây cũng có vị ngọt dìu dịu mùi thơm mang chút gì đó rất thanh khiết ý nhị.

Có người nói rằng chị Duy là người “khai sinh” ra mía nướng Hà Thành cũng chẳng ngoa. Bởi giờ tìm khắp Hà Nôi cũng chẳng có quán mía nướng nào. Mà gần 20 năm về trước chị là người đầu tiên thử nghiệm món lạ này. Chị bồi hồi nhớ lại ngày đó gia đình gặp rất nhiều khó khăn. Chồng chị anh Đinh Văn Minh thì bị bệnh nghe nói chậm hơn mọi người. Con trai lại đến tuổi tới trường. Chị trước kia nhà nghèo không được đi học giờ chị không muốn con mình cũng dẫm lên vết xe đỗ đó. Thế nên ngày đêm chị tìm cách kiếm tiền. Thay chồng làm trụ cột gia đình. Chị làm đủ nghề từ bốc vác cho đến bán hàng rong. Mùa hè đẩy xe đi bán dạo. Mùa đông chị lại ngồi trước rạp Đại Đồng để bán. Ban đầu là ngô luộc sau có thêm mực cá hoa quả. Cứ tầm 7h là quán chị đỏ đèn cho tới tận 10-11h đêm. Nhưng có lẽ mọi người nói đến quán chị nhiều không chỉ những thứ đó mà vì cách tiếp khách ân cần niềm nở vì bị hấp dẫn bởi món mía nướng. Chị bảo lúc ấy thấy mía chỉ đắt khách vào ngày hè còn mùa đông lại nằm chất đống. Vừa tiếc vừa muốn kiêm thêm thu nhập chị liền thử làm lấy mía nướng lên. Ăn cảm giác là lạ. Sau đó có vài vị khách đến ăn ngô thấy lạ liền thử  ăn cũng khen ngon. Thế là cái tên quán mía nướng ra đời từ đó.  Mới đầu làm chưa quen tay phồng rộp lên bỏng rát. Nhưng giờ chai rồi tay không nhạy cảm với độ nóng nữa mà dành hết cho cảm giác độ chín độ ngon của mía mà thôi. Mà theo chị mía nướng ngon là khúc mía được chín dần trên ngọn lửa nhỏ liu riu. Giống như người ta từ tốn chiêm nghiệm một triết lý sâu xa nào đó.

Vừa kể đôi tay chị vừa thoăn thoắt lấy ngô róc mía cho khách. Bên cạnh anh Minh lặng lẽ phụ vợ trở mía cho chín đều. Thỉnh thoảng người ta lại thấy những nụ cười tươi rói trên khuôn mặt anh chị. Chẳng biết một tối họ kiếm tất cả bao nhiêu có đủ tiền ăn học cho con không? Nhưng cái cảnh “thuận vợ thuận chống tát bể Đông cũng cạn” đó khiến nhiều người trong cái lạnh nơi phố thị phải xao lòng vui lây.


 

More...

Dẻo dai bún làng Bặt

By nguyenngoc

Dẻo dai bún làng Bặt

Ở Tràng An có một làng nghề làm bún đã đi vào ca dao huyền thoại “Bún bánh kẻ Bặt dưa gang kẻ Đình”. Dù rằng chẳng gần phố thị như Tứ Kỳ hay Phú Đô nhưng bún “kẻ Bặt” được nhiều người biết đến bởi sự trắng trong dẻo dai  cũng như ân nghĩa tình đời của người dân nơi đây…

Kết tinh từ…hạt ngọc

Từ bao đời nay người ta vẫn xem lúa gạo là “hạt ngọc” của đất trời. Nó không chỉ là sản phẩm được chắt chiu từ những sương sa mưa gió của thiên nhiên mà còn mang trong đó cả mồi hôi nước mắt của con người. Làng Bặt ở phủ Ứng Thiên xưa nay là Ứng Hòa Hà Nội vẫn luôn tự hào dân quê mình không bao giờ bỏ sót một “hạt ngọc”. Ở đây “hạt ngọc” làm cơm cho con người ăn mỗi ngày và còn được chế biến thành một thứ quà quê deo dẻo dai dai dài dài trăng trắng.

Cách trung tâm thủ đô hơn 20km kéo dài gần 3km trên trục đường quốc lộ 21B làng bún Bặt xưa giờ đang dần thay đổi. Sự sầm uất náo nhiệt đã đến với vùng quê thanh bình này. Theo lời giới thiệu của cô bán nước bên đường chúng tôi tìm đến nhà chú Nguyễn Văn Tiến. Đây là một trong những gia đình làm bún lâu đời và có tiếng nhất làng. Chú Tiến cho biết: “Bún ở đâu thì cũng có công thức máy móc làm như nhau. Cái khác cái riêng có chăng là ở khâu ủ bột lên men. Làm thế nào mà bột có đủ độ chua để kết tủa khi làm mà lại không để lại mùi khi ăn là rất khó. Và hơn hết là cái tâm người làm. Luôn nghĩ đến sức khỏe người tiêu dùng luôn lấy chữ “tín” làm nguyên tắc thì bún sẽ ngon hơn cả ”.

alt“Hạt ngọc” được dùng ở đây theo chú Tiến phải lúa Khang dân lúa P10 hoặc Q5. Đó không phải là những giống lúa đắt tiền nhất được trưng dụng trong những nhà hàng khách sạn mà đơn giản là những hạt lúa ngắn ngày loại mà người dân vẫn hay trồng để có gạo ăn trước trong những ngày giáp hạt. “Hạt ngọc” đó không nhất thiết phải long lanh nhưng bắt buộc phải sạch sẽ có độ khô vừa phải không khén quá cũng không ẩm quá. Từ những hạt gạo trắng ngần xay thành bột được ủ chua trong 3 ngày. Tiếp đến cho vào máy khuấy đều đánh tan thành thứ chất lỏng màu như sữa mẹ nhưng độ đặc giống như thứ hồ được nghiền ra từ cơm cho các bé những ngày đầu chập chững biết ăn. Nhìn những sợi bún trắng trong cứ ùn ra từ miệng của chiếc máy chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Ngạc nhiên vì sự biến hình của những “hạt ngọc” thành sợi bún. Thích thú với tay nghề chuyên nghiệp sự say mê của những người thợ nông dân “chân lấm tay bùn”.

 

 

Kết dính tình yêu thương

Khi chúng tôi đến nhà chú Tiến đang ăn trưa trong mâm cơm cũng có một đĩa bún. Chú bảo một ngày không ăn là thấy thèm không phải là thử nghiệm trước khi bán đâu mà dường như đã thành thói quen. Cứ làm mẻ bún nào xong là phải ăn cái đã. Những tưởng cái công việc có phần cầu kỳ này thường dành cho đàn bà con gái. Ấy vậy mà nơi này phần đông người chồng là tay nghề chính còn chị em làm “hậu phương vững chắc”. Điều đặc biệt bố vợ chú Tiến cười tươi khoe về mấy ông rể: “Với tôi con rể cũng như con trai. 6 đứa đều ngoan hiền giỏi giang nhưng thằng Tiến tôi quý hơn cả. Nó yêu vợ thương con chăm chỉ và làm bún rất giỏi. Nhà tôi gái nhiều cứ tưởng nghề gia truyền mất đi. Không ngờ từ khi về đây thằng Tiến còn làm cho bún gia đình trở nên nổi tiếng có thương hiệu. Đến ngần này tuổi rồi không có gì vui hơn thế cô ạ!”. Nghe ông tấm tắc khen ngợi ông rể quý chúng tôi chợt nhận ra tình người nơi đây thật đậm đà. Trong cuộc sống hiện đại không phải gia đình nào cũng có thể “tứ đại đồng đường” dâu rể thuận hòa như thế. Không phải vùng quê nào cũng bình yên giàu tình người như nơi đây. Có yêu thương chia sẻ cảm thông người ta mới sống với nhau ân nghĩa đến vậy.

Nghe chú Tiến kể nhiều người khác qua đường đi qua ăn bún Bặt một lần không thể quên đã quay lại học nghề. Có người con của quê còn mang nghề bún sang tận trời Tây để gợi nhớ lại cho những người xa xứ hình ảnh quê nhà. Bún Bặt Ứng Thiên ngày nay nức tiếng cả trong Nam ngoài Bắc từ mạn núi cao Hà Giang đến vùng đất mũi Cà Mau người ta vẫn nghe vang vọng đâu đó tiếng rao “Ai bún kẻ Bặt đây…ây…!”. Theo chú ước tính ở Sài Gòn cũng có gần 200 hộ từ làng Bặt mang nghề bún tha phương mưu sinh. Nhưng cái vui chính là dù ở đâu người ta cũng giữ được cái hồn Bặt trong từng sợ bún. Không trắng tinh khiết như bún Phú Đô không to bản như bún Huế càng không nhỏ xíu xìu như bún Tứ Kỳ bún Bặt sợi nho nhỏ xinh xinh vừa dẻo lại dai mà ăn còn vị thanh thanh ngòn ngọt của mùi gạo mới. alt

Hỏi về lịch sử làng bún mọi người chẳng biết chính xác có từ khi nào chỉ biết từ khi sinh ra đã thấy ông cha làm bún. Và mỗi dịp thu sang vào ngày 20 tháng 8 âm lịch những gia đình còn nối nghiệp làm mâm cỗ đĩa bún dâng lên thành hoàng làng cúng ông tổ nghề để báo ơn và cầu mong cuộc sống thêm hạnh phúc bình an.


More...

Chuyện làng “kén rể”.

By nguyenngoc

Chuyện làng “kén rể”.

Nhiều người biết đến làng Đường Yên xã Xuân Nộn Đông Anh Hà Nội với sự đặc sắc có một không hai của lễ hội “Kén rể” nơi đây. Ít ai biết rằng đàng sau nét văn hóa độc đáo ấy còn nhiều điều thật thú vị…

Tích xưa…

Tương truyền rằng vào những năm 30-40 TCN ở làng Đường Yên (thời đó còn gọi là trang Kim Hoa tên nôm là Kim con) có cô gái tên là Lê Hoa (hay là Ả Lự) tuổi 17-18 vẫn chưa lấy chồng tình nguyện đi theo Hai Bà Trưng chiêu mộ binh sĩ để đánh quân Tô Định. Sau khi đánh tan bè lũ ngoại xâm được Trưng Vương sắc phong là “Nữ sử anh phong” bà đã hồi hương trở về quê nhà chăm lo đời sống cho nhân dân. Khi nước nhà còn khói lửa binh đao bà quên đi phận mình là con gái trở thành nữ tướng mưu lược tài ba. Nhưng khi bốn bề dân chúng đã ấm êm bà trở về là phận nữ nhi đến tuổi cũng phải “dựng vợ gả chồng”. Thế nên mẹ bà đã xin phép dân làng mở hội kén rể. Kể từ đó cứ đến ngày mồng 2 tháng 2 âm lịch (ngày sinh của bà) hàng năm dân làng Đường Yên lại nô nức đón ngày hội “Kén rể”. Nhớ lại tích xưa từ già trẻ gái trai mỗi người một vai cùng nhau phục dựng lễ hội. Con gái “công dung ngôn hạnh” được chọn làm nữ tướng con trai giỏi văn chương nhưng không quên nghiệp cấy cày được chọn ra tra thi đấu để kén rể. Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử đất nước tưởng chừng như mất hẳn đi vào thời kháng Pháp-Mỹ đến nay lễ hội đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân nơi đây mỗi dịp Tết đến xuân về.

...chuyện nay.

Chúng tôi đến làng vào ngày không hội khi hai bên đường là những thảm lúa vàng rộ đang chờ thu hoạch. Con đường dẫn vào làng rợp bóng dừa càng tôn thêm vẻ đẹp vừa nên thơ vừa uy nghi của  một vùng quê giàu huyền thoại. Không như nơi khác ở đây từ trẻ con lên 4 lên 5 cho đến các cụ già đã móm mém đều nhớ như in về lịch sử văn hóa của làng. Nhất là lễ hội kén rể khi được hỏi đến ai cũng hào hứng kể không thiếu một chi tiết cứ như điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người vậy. “Mỗi năm một lần trong ngày diễn ra hội chúng tôi đều nhắc lại cho con cháu về truyền thống của làng. Qua đó vừa có thể răn dạy con cháu về đạo lý làm làm người vừa góp phần gìn giữ cái văn hóa vốn quý của cha ông”- Chú Nguyễn Văn Tuyến trưởng thôn tự hào cho biết.

Năm nào cũng vậy cứ đến đầu tháng 1 là nhà nhà trong làng đều dồn việc ngày để đêm đến ra sân đình tập luyện. Một buổi cấy cày một buổi các “vũ công diễn viên” nghiệp dư lại rộn ràng trong tiếng nhạc tiếng trống hội. Cô gái được chọn làm nữ tướng thì quên ăn quên ngủ sung sướng như sắp làm một mình tinh màn bạc. Còn chú rể cũng tưng bừng không kém nhảy nhót líu lo chuyên tâm tập luyên để soán ngôi phò mã. Cô Lan Phó ban tổ tổ chức hồ hởi khoe: “Cả làng hầu như ai cũng biết múa hát. Dù rằng đều là tự cung tự cấp tình nguyện tham gia nhưng ai cũng rất nhiệt tình và trách nhiệm. Có gia đình cả  nhà đều diễn bố vai lính mẹ vai hầu con múa rối… Vui lắm cô ạ!”.alt

Theo giới thiệu chúng tôi tìm đến nhà bà Nguyễn Thị Mận ông Nguyễn Văn Kiện. Ông bà là một trong những cặp trai gái đã nên duyên vợ chồng từ những lần tham gia lễ hội. Mặc dù ông đã ra đi cách đây 4 năm nhưng khi được hỏi về ông cả bà và con cái đều nói với tấm lòng đầy tôn kính. Bà xúc động kể: “Sống với nhau gần cả cuộc đời nhưng ông chưa bao giờ chửi mắng đánh đập vợ con. Với xóm giềng ông càng là người biết trên biết dưới chẳng bao giờ mất lòng ai. Khi không còn sức tham gia đóng chú rể nữ tướng nữa ông bà vẫn hay đọc cho nhau nghe những câu vè trong hội để nhớ lại kỷ niệm xưa”.  Nhìn bà mân mê tấm ảnh ông chúng tôi hiểu rằng khoảng cách không gian thời gian chẳng ý nghĩa gì khi giữa lòng người với người vẫn còn mỗi tình thâm. Cũng theo chú Tuyển trong làng cũng có nhiều gia đình như nhà bà Mận. Họ bén duyên tơ hồng từ những lần cùng nhau tham gia lễ hội. Dường như sau những lần tìm hiểu mai mối đặc biệt đó họ đã tìm được ở nhau nữa kia của mình hiểu và yêu nhau hơn. altCó lẽ vậy mà ở trong làng hầu như nhà nào cũng vui vẻ đầm ấm. Khi xưa cuộc sống khó khăn vợ chồng con cái tựa vai nhau cùng vượt qua gian khổ đói nghèo. Ngày nay không còn thiếu ăn thiếu mặc cả gia đình lại chung tay xây đắp tình thân thêm nồng ấm. Một điều thú vị của làng mà mỗi khi ai đến chú trưởng thôn đều vui vẻ “khoe”. Đó là tỉ lệ con trai ở rể trong làng rất đông chiếm ¼ dân số. Từ xưa đến nay thường thì “gái theo chồng” chứ mấy ai “trai theo vợ”. Ây thế nhưng không ít các trai thanh từ nơi xa đã cảm duyên mảnh đất ân tình này để rồi đến một lần và ở luôn mãi mãi. Và không ít trong số họ cũng trở thành thành viên tích cực trong những ngày diễn ra lễ hội.

Nếu có dịp qua huyện Đông Anh dừng chân ở Đường Yên Xuân Nộn du khách sẽ không chỉ ngạc nhiên khi xem một lễ hội độc đáo còn  được ấm lòng trong không khí thanh bình của một làng quê Bắc bộ trù phú!

 

More...

Ân tình đậu phụ Mơ Táo

By nguyenngoc

Ân tình đậu phụ Mơ Táo

Đậu phụ là một trong những món ăn dễ làm dường như chỉ học qua sách hướng dẫn là nhà nào cũng có thể chưng cất được. Tuy nhiên để ăn miếng đậu tinh nhất mà có thể cảm nhận ngay đầu lưỡi sự mềm mượt béo ngậy và hơi chút ngòn ngọt thì phải kể đến đậu phụ Mơ Táo Mai Động Hà Nội.

1.     Miếng đậu trắng ngần chỉ to hơn cái lưỡi mèo chút đỉnh ấy mà lại có lắm giai thoại về sự ra đời của nó. Có người nói đậu phụ làng Mai Động là do Đô úy Tam Trinh truyền dạy cho dân làng vào đời nhà Trần. Ông vốn là vị tổ lò vật Mai Động được nhân dân tôn làm Thành hoàng làng. Trong những năm tháng dạy học ở đây ông đã dạy nghề cho dân lấy đậu phụ làm món ăn cho quân sĩ. Từ đó làm đậu phụ trở thành nghề truyền thống của làng. Cũng có người kể đến đời nhà Trần khi hương Cố Mai trở thành đất phong thưởng cho thượng tướng Trần Khát Chân người có công diệt Chế Bồng Nga trên sông Hải Triều cứu thành Thăng Long khỏi bị quân Chiêm tàn phá thì đời sống kinh tế văn hóa ở đây đã khá phát triển. Do sự hình thành tự nhiên mỗi làng đều có một nghề riêng độc đáo. Tên làng được gắn với đặc sản của địa phương: Làng Tương Mai chuyên nấu cơm bán cho khách trên đường thiên lý bắc- nam nên gọi Mơ Cơm; Làng Hoàng Mai chuyên nấu rượu nên được gọi là Mơ Rượu; còn làng Mai Động có nghề làm đậu phụ nên được gọi là Mơ Đậu.
Chẳng biết rồi mọi người nghĩ theo cách nào nhưng hiện nay ở đình Mơ Táo vẫn có ghi công trạng của Đô Úy Tam Trinh và người làng thì vẫn tôn ông là vị sư tổ nghề. Vì thế vào những ngày lễ tết những gia đình theo nghiệp ông vẫn dành riêng mẻ đậu đẹp nhất ngon nhất dâng lên thành hoàng làng để tỏ lòng biết ơn và tôn kính.

2.     Làng Mai Ðộng nằm sát con sông Kim Ngưu ở phía cuối đường Nguyễn Thị Minh Khai. Bên kia sông là làng Mơ Táo sát trục đường Tam Trinh. Hai làng này trước đây là một và thuộc Kẻ Mơ (gồm: Hoàng Mai Thanh Mai Bạch Mai Mai Động Mơ Táo...). Xưa kia hầu như cả làng đều lấy việc làm đậu phụ là nghề chính. Nhưng rồi cùng thời gian cuộc sống biết bao đổi thay trong làng giờ chỉ có khoảng gần 100 hộ còn giữ nghề. Theo giới thiệu của dân làng chúng tôi tìm đến nhà chị Lưu Thị Hằng. Chưa phải là gia đình có truyền thống làm nghề lâu đời nhất nhưng đậu của nhà chị lại nức tiếng khắp Hà thành bởi chất lượng ngon mẫu mã đẹp. Là con dâu trong gia đình đông anh em. Mới đầu chị Hằng cũng chưa quen nhiều lần làm hỏng nhưng được sự chỉ bảo tận tình của chống của các cô chú trong nhà dần dà chị trở thành học viên xuất sắc. Đến nay gần 20 năm trong nghề chị vẫn không bao giờ quên những tháng ngày nghèo mà tràn ngập niềm vui ấy. Đôi tay thoăn thoắt gói đậu vào khuôn chị tâm sự: “Hồi đó cả nhà quay quần làm đậu không phân biệt già trẻ gái trai con dâu con rể cứ ai biết rồi chỉ cho người chưa biết. Tiếng nói cười râm ran như đón Tết”. Và thế từng mẻ đậu sinh ra trong ân nghĩa tình người. Nó trắng trong như tấm lòng người ta không vì miếng cơm manh áo mà vụ lợi được tiếng nhiều mà quên đi tiếng ngon. Nó ngòn ngọt man mát như dòng sữa được thiên nhiên chắt chiu từ lòng đất từ những đêm sương sa hay những giọt nắng đã thấm sâu vào hạt đậu. Giờ đây trong nhà chỉ còn lại mỗi mình gia đình nhỏ của chị là theo nghề cha ông. Mặc dù không khí chẳng còn náo nhiệt như xưa nhưng chị và chồng vẫn luôn giữ chữ tín và cái tâm của người làm nghề. Chị bảo: “Hằng ngày trên mâm cơm nhà tồi bao giờ cũng có ít nhất một món đậu. Thế nên tiêu chí để làm đậu đầu tiên chúng tôi đặt ra là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Khách hàng cũng như mình sức khỏe là trên hết. Sau đó mới là ngon và đẹp mắt”. Cũng đúng thật vào gian bếp chị làm từ cái mảnh khăn gói óc đậu đến cái nồi nấu đậu đều trắng sạch. Một quy trình làm vừa khoa học lại đảm bảo vệ sinh. Chị kể: “Cách đây không lâu có đoàn nhà nghiên cứu người Nhật vào đây kiểm tra chất lượng. Họ rất vui khi không có dấu hiệu độc tố gây hại sức khỏe cho người tiêu dùng”.

3.     Để làm được miếng đậu ngon phải trải qua nhiều thao tác làm việc khác nhau thời gian không giống nhau nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tỉ mẫn kỹ càng và lòng say mê nghề rất lớn. Chị Hằng chia sẻ: Đậu Mơ rất dễ nhận ra nó có nếp nhăn nhăn của khuôn vải nhưng vẫn rất mềm mượt có mép thành cao do ép trong khuôn gỗ nhưng vẫn mỏng dần lên chứ không dày đều như các khuôn đậu thường. Và khi cắn một miếng đậu Mơ nóng sốt chưa kèm với phụ gia gì mới cảm nhận hết cái tinh tế của món quà quê dân dã thanh tao ấy. Từ lâu đậu phụ trở thành món ăn thường nhật trong mâm cơm của nhiều gia đình. Với những người làng Mơ Táo một ngày không ăn đậu uống nước đậu nhìn thấy đậu là có cái gì đó ngai ngái khó chịu. Họ lấy nước đậu làm canh óc đậu sốt cà chua đậu miếng chấm mắm tôm…Dường như  phần nào của đậu cũng được người ta sáng tạo thành những món ăn sơn hào hải vị mang phong cách riêng của mỗi nhà. Thế nên ai đã có dịp qua làng Mai Động thưởng thức đậu Mơ chắc sẽ không thể nào quên câu ca còn vang vọng: “

“Đậu mơ chấm với mắm tôm

Ăn xong buổi sáng đến hôm lại thèm

Tại sao anh lấy được em

Vì mê Mai Động vì thèm đậu Mơ”

 

More...

Rưng rức Hà Nội

By nguyenngoc

 

Tôi còn nhớ rất rõ ikhi còn bé xíu cứ mỗi năm một lần 4 chị em tôi lại thay phiên nhau ra Hà Nội chơi. Sở dĩ chúng tôi có được "thú vui" đó là vì nhà  tôi có hai O ở đây. Hồi đó tôi còn quá bé để có thể nhớ tên đường tên phố Hà Nội. Chỉ có nơi duy nhất tôi nhớ nhiều nhất là Lăng Bác nơi có lẽ tôi đã đến cả chục lần. Cũng lạ có nhiều người Hà Nội chưa một lần vào Lăng Bác nhưng những người ở tận nơi xa xôi cách thủ đô hàng trăm km vẫn cứ vào lăng viếng Người mỗi lần có dịp đến với Thủ đô. Trong ký ức của tôi Hà Nội xưa nhỏ lắm cũng không sầm uất náo nhiệt như bây giờ. Cũng từ đó trong tôi bắt đầu nhen nhóm  tình yêu với Hà Nội. Lúc đấy mỗi lần ra Hà Nội về điều làm tôi nhớ về Hà Nội nhất không phải muì hoa sữa cũng chẳng phải hương cốm thu mà là mùi trứng tráng trên bếp ga. Cái mùi thơm lừng có chút gì đó rất thành phố mà cái mùi rơm củi ở quê tôi không thể nào có được. Đến năm lớp 12 tôi và mấy đứa bạn thân đều hứa với nhau sẽ thi đậu đại học để được ra Hà Nội và đạp xe trên đường phố. Nhưng cuối cùng điều đó đã không thành. Trong đám bạn hai đứa thân nhất chẳng đứa nào ra Hà Nội chỉ có tôi là bắt đầu lang thang nơi đây. Nhanh thật mới đó mà đã 4 năm. 4 năm tôi đã đi bộ đạp xe ngồi xe bus...đi gần hết những con đường Hà Nội. Có nhiều nơi đã thành đề tài trong những trang viết của tôi có những nơi đã chứng kiến tôi khóc khi có chuyện buồn có những nơi đã tôi đã được gặp gỡ và kết bạn với những người mà tôi không hề quen biết...Tất cả đã làm thành những mảnh ghép tuyệt đẹp trong cuộc sống của tôi. Để rồi mỗi khi nghe những bài hát về Hà Nội về Việt Nam trong tôi lại có cảm giác rung rức. Hôm qua khi dạo bước trên bờ Hồ nhìn từng dòng người cười nói   rạng ngời đi mừng đại lễ 1000 năm lắng nghe bài hát Rạng rỡ Việt Nam toàn thân tôi bổng nỗi da gà. Niềm vui niềm tự hào dâng trào trong tôi xúc động đến lạnh. Tôi có cảm giác như các mạnh máu trên mặt hay chạy dọc theo sống lưng như giãn nở nóng lên như có điện giật. Thấy mọi người nhún nhảy theo điệu hát những em bé hồn nhiên theo gia đinh đi trẩy hội các ông bà Tây ba lô ngó nghiêng ngắm nhìn cành và người Thủ đô tôi càng sung sướng. Ngày thường có thể trách móc rằng Hà Nội là chốn tắc đường Hà Nội gắn liền với bụi bặm... nhưng đến hôm nay bao nhiêu hờn dận đó đều được dũ bỏ thay vào đó là sự khoan dung cái nhìn đầy yêu thương với Hà Nội. Ai có giận đến mấy đến lúc này cũng phải thốt lên "Ôi Hà Nội mình đẹp quá!"

More...

Mênh mang làng Nôm

By nguyenngoc

 

Mênh mang  làng Nôm

 Nghe cô bạn đi chơi về "khoe lấy khoe để" vẻ đẹp thơ mộng cổ kính và sự thanh tĩnh yên bình của làng Nôm nay là làng Đại Đồng xã Đại Đồng huyện Văn Lâm Hưng Yên tôi cùng cô bạn khác cũng quyết định "vi hành" một chuyến xem thực hư thế nào?

Theo chỉ dẫn của người dân bên đường chúng tôi men theo đường sắt Bắc Nam chạy qua địa phận huyện Văn Lâm để về với làng Nôm. Hai bên đường là những cánh đồng lúa xanh bát ngát. Thi thoảng đâu đó trong gió lại dấy lên mùi thơm nồng nàn của lúa đang độ thì con gái. Gần đến làng chúng tôi càng dần cảm nhận được những gì cô bạn kia kể là sự thật. Rong bộ xe qua cánh cổng làng uy nghi cổ kính có từ hàng trăm năm nay chúng tôi òa lên ngạc nhiên khi trước mặt là một không gian làng quê còn vẹn nguyên dấu tích. Một cái hồ rộng được chia thành hai ngăn. Hai bên là những cây cau thẳng tắp những cây nhãn vàng ươm bởi những sợi tơ hồng đang bấu víu quanh năm soi mình trên mặt nước. Đặc biệt còn có nhiều ngôi nhà cổ nhiều nhà thờ dòng tộc cổ có niên đại hơn trăm tuổi cũng long lanh in mình dưới nước. Đối diện với cổng làng bên kia hồ là quần thể di tích gồm đình làng thờ đức thánh Tam Giang giếng cổ và những cây đa cổ thụ. Tương truyền xưa kia Đức thánh Tam Giang là tướng dưới thời Hai Bà Trưng có công đánh giặc giúp dân cứu nước. Không những thế ông còn hiển linh giúp vua Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống được vua phong là "Hộ Quốc Phúc Thần". Theo ông Đỗ Ngọc Vượng phát thanh viên của thôn cho biết: "Làng Nôm hiện nay có 172 hộ dân với hơn 600 nhân khẩu. Làng có từ những năm đầu Công nguyên nhưng phải đến cuối thế kỷ XV dân cư mới tập trung đông đúc. Trước đây người dân trong làng có nghề buôn đồng nát. Dân gian vẫn truyền nhau câu ca nổi tiếng: "Đồng nát thì về Cầu Nôm/ Con gái nỏ mồm về ở với cha". Bà con ở đây đi mua đồng nát về bán lại cho các lò đúc đồng ở địa phương rồi các vùng lân cận. Nhờ chịu thương chịu khó sáng tạo trong làm ăn buôn bán nên làng Nôm nhờ đó mà ngày càng hưng thịnh tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa phát triển. Ông Vượng cho biết thêm hàng năm cứ vào ngày 11-12 tháng Giêng âm lịch dân làng lại nô nức đón ngày hội làng. Đây là dịp vừa để dân làng báo ơn công đức với thành hoàng làng để lưu giữ nét sinh họat truyền thống vừa là ngày hội để con cháu xa gần trở về quê hương báo hiếu công ơn ông bà cha mẹ góp công đức xây dựng xóm làng ngày càng giàu đẹp.

Điều thú vị hơn nữa ngay cạnh ngôi đình cổ kính lọt thỏm dưới cây đa cao tuổi quanh năm toả bóng mát là một lớp học mẫu giáo nho nhỏ xinh xinh. Không có cảnh chen lấn xô đẩy của các phụ huynh chờ đón con hay những hàng quán quà vặt san sát nhau như trên phố. Ở đây chỉ có học trò cô giáo và những câu chuyện cổ tích vang vọng như chảy trôi cùng thời gian hoà vào không trung thanh tĩnh. Đến làng Nôm bạn sẽ ấn tượng không chỉ bởi những ngôi nhà cổ mà còn khó quên hình ảnh cây cầu đá bắc qua sông Nguyệt Đức nối liền làng với chợ và chùa Nôm. Cây cầu gồm chín nhịp mặt cầu được ghép bằng những phiến đá xanh. Hai bên thành cầu là các mỏm đá nhô ra được chạm trổ hoa văn rất tinh xảo và cầu kỳ trông như những cái đầu rồng của những thuyền rồng mà vua chúa ngày xưa hay dùng để đi du ngoạn vậy.

Chùa Nôm còn có tên tự là "Linh thông cổ tự" thuộc thiền phái Lâm Tế. Không còn ai biết và cũng không có tư liệu nào ghi chép lại chính xác ngày tháng ra đời của ngôi chùa. Chỉ biết rằng trên 2 tấm bia lớn còn lưu lại tại đây thì chùa đã được xây dựng lại vào thời Hậu Lê năm 1680 được trùng tu nhiều lần sau đó và lần trùng tu mới nhất là vào năm 1998. Chùa trước đây là ngôi đại tự hoành tráng thuộc miền Kinh Bắc nay là Hưng Yên. Theo truyền thuyết thì xưa kia chùa Nôm được xây giữa rừng thông cổ thụ. Có lẽ sự linh thiêng của ngôi chùa cũng như của đạo Phật cộng với sự tốt tươi của ngàn thông trên mảnh đất này mà chùa có tên "Linh thông cổ tự"? Còn chợ Nôm lúc chúng tôi đến chợ vẫn tấp nập người mua kẻ bán. Hình ảnh vợ chồng người thợ rèn dưới gốc cây đa bà cụ đang nhai trầu móm mém bên những cái rá cái rổ đan bằng tay...càng làm cho vẻ đẹp thôn quê nơi đây thêm đậm đà dư vị.

Dừng chân bên bến nước nhìn đàn vịt tung tăng bơi lội giữa mặt hồ hà hít không khí trong lành mát lạnh chúng tôi thấy hồn mình mênh mang khó tả. Có lẽ vậy mà làng Nôm đã chinh phục được không ít du khách thập phương lặn lội phương xa tới đây để thưởng  ngoạn. Và đặc biệt là trở thành ứng viên sang giá trong danh sách những Di sản văn hoá quốc gia cần được bảo tồn.

More...

Mưa Hà Nội

By nguyenngoc

tài liệu 

( Sáng ngày 2 tháng 4 năm 2010)

Đã lâu lắm rồi Hà Nội mới lại thức dậy với cơn mưa giông như vậy. Định ngủ nướng thêm chút nữa bù lại cho một buổi tối làm việc quá sức nhưng tiếng mưa lạch tạch trên mái tôn cộng thêm mùi hơi đất ngai ngái đã kéo tôi ra khỏi cái chăn ấm áp...

Mưa Hà Nội! Tôi vươn vai đứng ngắm nhìn. Ban đầu là những hạt mưa to sụ. Chúng rơi nhanh nhưng  bằng đôi mắt mà mọi người vẫn đùa tôi là mắt cú vọ thì thấy rõ vệt mưa lao nhanh xuống mặt đất xuống mặt lá của những tán cây trước hiên nhà hàng xóm. Nhìn những chiếc lá cứ uốn cong lại bật lại còn đung đưa vài giây mỗi khi có hạt mưa rơi xuống tôi có cảm tưởng như mình đang được được xem một buổi vũ hội. Mà ở đó nhưng chiếc lá đang thay nhau nhảy những điệu Tăng gô tuyện đẹp. Chúng như đang nói cười để đón chào một ngày mới đầy tươi mát. Tôi gọi là "Vũ điệu lá trong mưa".

Đối với nhiều người   cơn mưa sáng sớm thường làm họ khó chịu. Bởi có thể họ sẽ bị bẩn quần áo khi đi trên đường có thể bị va chạm xe cộ do vướng víu áo mưa khi vội vàng đến công ty. Bởi cũng có thể một cuộc dã ngoại ngoài trời bị huỷ bỏ. Nhưng với tôi dù là một buổi sáng bắt đầu bằng ánh nắng mặt trời chói chang hay những cơn mưa giông bất chợt tôi vẫn thấy thật thú vị. Tôi vẫn tìm thấy niềm vui trong những hoàn cảnh đó. Có đứa bạn đã từng hỏi trước khi chúng tôi tác nghiệp  trong mưa: Mưa thế có đi không? Sao không chứ? Mưa mình sẽ viết theo kiểu mưa. Ừ mưa sẽ làm theo kiểu của mưa nắng sẽ có dạng của nắng. Hoàn cảnh sự việc có bi quan hay tràn đầy hi vọng hay không là phụ thuộc vào cách nhìn của mỗi con người đối với vấn đề đó. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Du đã đúc kết thành những áng thơ bất hủ:

" Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".

  Khoảng 15 phút sau những hạt mưa nhỏ dần không tạo thành vệt dày nữa mà tán mỏng phớt nhẹ xuống dương gian như gieo thả một lớp phấn trắng trên khuôn mặt cô thiếu nữ thôn quê chập choạng hoà nhập với cuộc sống chốn phồn hoa đô hội. Những đám phấn mưa buông mình xuống trần gian một cách vô lối. Đám rẽ ngang đám xiên chéo có đám ngẫu hứng lại thả nổi cong cong rồi lại phi thẳng xuống mặt đường. Lúc đầu tôi cứ trách mưa sao vô ý thế nhưng rồi để ý mới thấy sở dĩ phấn mưa phải xẻ theo nhiều chiều như vậy là do nếp nhà ở Hà Nội nó cứ lộn xộn cả lên. Có dãy nhà đang ngang hàng bổng đâu thòi ra một ông ở góc quẹo. Vì bề rộng chật hẹp nên ông ta đành lên cao sống bằng không gian lưng chừng. Bởi thế phấn mưa cũng phải tạo dáng theo những nếp nhà trước khi tiếp đất hạ cánh an toàn.

Nếu mưa ở quê người ta chỉ nghe tiếng mưa xào xạc trên những vòm lá lách tách trên mái nhà đan xen cùng những tiếng ễnh ương tiếng gà gáy sáng thì ở trong mưa Hà Nội còn là tiếng còi xe bóp đến chói tai vì ai đó đang chắn trước mũi xe.  Tiếng rú ga như tiếng một con dao đăn chặt mạnh lên thớt khi chú cá mãi vẫn chưa "tạ thế" vì vội vàng .

Nhưng có lẽ nếu không có những hình ảnh đó không có âm thanh đó chưa chắc đã thành mưa Hà Nội!

More...